EnglishVietnamese

Giỏ hàng mini

Hiện bạn không có sản phẩm nào trong giỏ hàng.
Vào giỏ hàng
Hỗ Trợ Trực Tuyến
Điện thoại

Hotline 1: 0912860008

Hotline 2: 0868880229

Giờ làm việc: 9h-17h từ thứ 2 đến thứ 7

Sản Phẩm Ngẫu Nhiên
Video Giới Thiệu

17 tác nhân ô nhiễm không gian sống và ích lợi của cây xanh (Phần 1)

Thời gian đăng: 06-08-2016 01:36 | 704 lượt xemIn bản tin

17 TÁC NHÂN Ô NHIỄM KHÔNG GIAN SỐNG VÀ LÀM VIỆC

1. Formaldehyde

Nguồn gốc: được biết đến như là mêtanal, ở điều kiện bình thường là 1 chất khí không màu, có tính kích thích và mùi hăng mạnh, dễ hòa tan trong nước. Độc tính rất cao, tuy nhiên vì formaldehyde có tính kết dính cao, có thể gia tăng độ cứng cho các vật liệu dạng miếng, còn có thể dùng để dính và cố định tường, nền nhà, đồng thời có tác dụng ngăn ngừa côn trùng, mối mọt... Nhựa formadehyde là 1 nguyên liệu được ưu tiên lựa chọn hàng đầu sử dụng nhiều trong các vật liệu xây dựng như gỗ dán, thảm, xốp cách điện, đồ gia dụng, ống nước... Ngoài ra formadehyde còn có mặt trong các loại thuốc tẩy, thuốc diệt côn trùng, thuốc khử độc, ngăn ngừa mối mọt, mực in, giấy... Lá thuốc lá và 1 số chất không cháy hoàn toàn cũng có thể sản sinh ra formadehyde.

Sở dĩ formadehyde gây hại cho sức khỏe con người là vì các nguyên vật liệu có chứa formadehyde này sẽ thải ra formadehyde rất chậm theo thời gian trong trạng thái kết dính, dưới tác dụng của nhiệt độ và 1 lượng nước thích hợp, nó sẽ trở thành formadehyde tự do và thẩm thấu, khuếch tán trong không khí, là 1 trong các chất gây ô nhiễm không khí trong nhà.

Qua nghiên cứu thấy rằng hàm lượng formadehyde có trong 1 ngôi nhà mới xây xong khá cao, có những nơi đạt tới 0.4mg/m3, nghiêm trọng có khi lên tới 1,5mg/m3. Và hàm lượng formadehyde trong 1 căn nhà mới xây xong phải mất 5 tháng sau mới giảm xuống dưới mức 0,1mg/m3; sau 7 tháng mới giảm xuống dưới 0,08mg/m3. Thời gian formadehyde phát tán trong không khí phòng kéo dài từ 3-15 năm.

Hàm lượng formadehyde có mối quan hệ nhất định với thời gian sử dụng căn nhà, nhiệt độ, độ ẩm và sự thông thoáng. Thời gian sử dụng căn nhà càng dài thì lượng formadehyde còn lại trong phòng càng ít; nhiệt độ càng cao, độ ẩm càng lớn càng có lợi cho việc giải phóng formadehyde; nếu điều kiện thoáng khí tốt sẽ có lợi cho việc loại trừ formadehyde.

Tác hại đối với sức khỏe con người: Tiêu chuẩn hàm lượng formadehyde trong nhà ở cho phép không được vượt quá 0,1mg/m3. Formadehyde là 1 chất có thể gây ung thư và thúc đẩy sự phát triển của tế bào ung thư, khiến người bệnh xuất hiện hiện tượng khứu giác có những triệu chứng bất thường, dị ứng, chức năng phổi bị ảnh hưởng, chức năng gan kém, khả năng miễn dịch suy yếu, có thể gây ra 1 số bệnh mãn tính đường hô hấp, ung thư vòm họng, ung thư đường ruột, ung thư não, rối loạn kinh nguyệt, đột biến gen, trẻ sơ sinh có nhiễm sắc thể dị thường, bệnh máu trắng, suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ. Formadehyde đặc biệt nguy hại đối với trẻ em và phụ nữ đang mang thai.

Ở nồng độ trong phòng là 0,06-0,07mg/m3, việc hít phải formadehyde sẽ khiến trẻ nhỏ bị hen suyễn nhẹ; ở nồng độ lên tới 0,1mg/m3, việc hít phải formadehyde có thể gây kích ứng mắt và màng nhầy, ảnh hưởng tới khứu giác; khi nồng độ là 0,5mg/m3, có cảm giác nóng rát cổ họng và khó thở; nếu nồng độ cao hơn sẽ gây ra đau đầu, nôn mửa, ho, tức ngực, hen suyễn, thậm chí là sưng phổi; nếu nồng độ formadehyde lên tới 30mg/m3 có thể gây tử vong ở người.

2. Benzen

Nguồn gốc: là 1 hydrocacbon thơm, trong điều kiện bình thường là 1 chất lỏng không màu, mùi dịu ngọt dễ chịu, dễ cháy. Benzen được sử dụng rộng rãi trong đời sống, là 1 dung môi quan trọng trong công nghiệp, là chất để điều chế dược phẩm, cao su tổng hợp, thuốc nhuộm, sơn, sơn chống thấm... Và đó cũng là nguồn phát tán benzen vào không khí chủ yếu, ngoài ra còn từ khói thuốc lá, mực máy in, máy fax và thuốc tẩy.

1 số loại sơn chống thấm sử dụng bột sơn nguyên chất và pha loãng có chứa hàm lượng benzen cao. Qua nghiên cứu những căn nhà sử dụng loại sơn chống thấm này sau 15 năm, hàm lượng benzen vẫn cao hơn mức cho phép tới 14,7 lần.

Tác hại đối với sức khỏe con người: hàm lượng benzen tiêu chuẩn ở mức cho phép quy định là 0,11mg/m3. Benzen là 1 chất gây ung thư ở người rất cao. Benzen xâm nhập vào cơ thể người qua quá trình trao đổi chất ở gan và tủy, mà tủy sống là nơi hình thành hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu, hình thành độc tố qua tổ chức tạo máu. Benzen gây kích ứng với da, mắt và đường hô hấp trên. Việc hít phải benzen ở dạng chất lỏng ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, có thể gây sưng và xuất huyết phổi, khiến da bị khô, xuất hiện các nốt ban đỏ, mụn nước trên da...

Với những người làm việc trong môi trường benzen nồng độ thấp, sau khi kiểm tra kĩ sức khỏe vẫn phát hiện ra là mặc dù hồng cầu và bạch cầu vẫn nằm trong phạm vi cho phép nhưng thấp hơn mức tham chiếu, khi hàm lượng benzen tăng lên thì tế bào bạch cầu có xu hướng giảm, tỉ lệ bạch huyết tăng lên.

Phụ nữ nhạy cảm với các tác hại của benzen hơn nam giới, có thể xuất hiện hiện tượng kinh nguyệt không đều, rong kinh, tỉ lệ sảy thai và thai nhi nhẹ cân tăng cao.

Nếu hấp thu quá nhiều benzen nồng độ cao có thể gây ngộ độc cấp tính, trong thời gian ngắn, ngoài niêm mạc và phổi bị kích ứng, trung khu thần kinh cũng bị ức chế, xuất hiện hiện tượng đau đầu, buồn nôn, đi đứng không vững, hôn mê, co giật và loạn nhịp tim... Người bị phơi nhiễm nặng có thể tử vong.

Trúng độc benzen mãn tính lúc đầu sẽ có hiện tượng chân răng và niêm mạc mũi bị chảy máu, xuất huyết da, kèm theo hiện tượng chóng mặt, đau đầu, đuối sức, mất ngủ. Thời gian đầu, tiểu cầu có xu hướng tăng, nhưng lâu dần lượng tiểu cầu giảm, nếu nghiêm trọng còn gây thiếu máu. Người thưởng xuyên tiếp xúc với benzen sẽ khiến da bị khô ráp, bong da, dị ứng da.

3. Toluen

Nguồn gốc: hay còn gọi là mêtylbenzen hay phenylmêtan là 1 chất lỏng trong suốt, không hòa tan trong nước, có mùi thơm giống mùi của benzen, độc tính thấp hơn benzen một chút. Toluen là 1 hydrocacbon thơm được sử dụng làm dung môi rộng rãi trong công nghiệp, như nước hoa, nước giặt, 1 số loại thuốc lá, giấy dán tường, hồ dán, sơn...

Tác hại đối với sức khỏe con người: theo quy định, nồng độ toluen cho phép là 0,2mg/m3. Toluen gây 1 số tác hại:

- Gây tổn thương hệ thần kinh; biểu hiện của trúng độc toluen cấp tính là tê liệt hệ thống thần kinh trung ương, còn biểu hiện của trúng độc mãn tính là hội chứng suy nhược thần kinh. Sau khi bị trúng độc toluen nồng độ cao, người trúng độc sẽ thể hiện sự hưng phấn quá độ, bất an, khóc cười bất thường, hoặc bị trầm cảm, thích ngủ... nghiêm trọng hơn là có hiện tượng hôn mê. Các nghiên cứu phát hiện ra rằng, khi nồng độ toluen trong máu lên tới 1250mg/m3, trí nhớ và sức chú ý sẽ giảm rất nhanh chỉ trong 1 thời gian ngắn.

- Gây kích ứng da nghiêm trọng: Mặc dù độc tính của toluen thấp hơn benzen, nhưng nó lại có tính kích ứng mạnh hơn benzen, việc hít phải toluen có thể có cảm giác đau rát cổ họng, sốt, kích thích tới mắt và màng nhầy, làm chảy nước mắt, đỏ mắt, sung huyết, toluen dính vào da gây dị ứng da, da đỏ, đau rát và nổi mụn nước... Nếu trực tiếp hít phải toluen ở dạng nước có thể bị viêm phổi, sưng phổi hoặc xuất huyết phổi...

- Ảnh hưởng tới chức năng tạo máu: toluen khiến lượng tế bào bạch cầu và tiểu cầu giảm, nghiêm trọng có thể gây trở ngại cho chức năng tạo máu, gây thiếu máu và bệnh máu trắng.

- Gây tổn thương gan, thận và tim: toluen xâm nhập vào gan gây bệnh hoàng đản, gan to, chức năng gan bất thường, làm thận bị tổn thương, ở thể nặng gây suy thận cấp, loạn nhịp tim, tim đập quá chậm hoặc quá nhanh, quá trình trao đổi máu ở tim bị ngừng trệ.

- Ảnh hưởng tới phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh: Gây cường kinh hoặc rối loạn kinh nguyệt ở nữ giới. Gây hội chứng tăng huyết áp thai nghén ở thai phụ, gây buồn nôn và thiếu máu, thậm chí là sảy thai. Trẻ sinh ra trong trường hợp mẹ bị ngộ độc toluen có nguy cơ bị dị tật, chức năng hệ thống thần kinh trung ương bị trở ngại, trẻ sơ sinh bị giảm cân, chậm lớn...

4. Xylene

Nguồn gốc: Xylene là chất lỏng trong suốt, không màu, độ bay hơi vừa, hòa tan với cồn, ether, dầu thực vật và hầu hết các dung môi hữu cơ khác nhưng không tan trong nước. Xylene được dùng làm dung môi hòa tan nhựa tổng hợp, chất béo, sáp. Xylene được dùng làm dung môi cho sơn bề mặt vì đặc tính có độc tính bay hơi chậm hơn toluen và khả năng hòa tan tốt. Được dùng trong tráng men, sơn mài, sơn tàu biển, các loại sơn bảo vệ khác và dùng trong sản xuất nhựa alkyd. Xylene còn được dùng làm chất trong sản xuất thuốc trừ sâu hóa học, làm dung môi cho mực in vì có tốc độ hòa tan cao, dùng trong công nghệ sản xuất keo dán cao su. Xylene có mặt trong khói thuốc lá, các chất phụ gia...

Tác hại đối với sức khỏe con người: Xylene xâm nhập vào cơ thể người thông qua đường hô hấp, da và đường tiêu hóa. 1 phần xylene có thể được bài tiết ra ngoài qua đường hô hấp, 1 phần xylene được hấp thu sẽ phân bố trong các tổ chức mỡ và tuyến thượng thận, sau đó chúng lần lượt phân tán đến tủy, não, máu, thận và gan.

Hàm lượng xylene quy định là 0,2mg/m3. Xylene gây ra những tác hại sau:

- Kích ứng da và niêm mạc: là chất dễ gây kích ứng da. Nhiễm xylene trong thời gian dài gây viêm da, da khô và nứt nẻ. Hít phải xylene nồng độ cao trong thời gian ngắn gây kích ứng mắt và đường hô hấp nghiêm trọng, gây xung huyết kết mạc mắt và huyết quản.

- Gây tổn thương đường hô hấp, gan, thận, ruột và dạ dày: xylene gây kích thích đường hô hấp mạnh. Hít phải xylene nồng độ cao có thể gây ra chứng chán ăn, buồn nôn và đau bụng, làm gan, thận bị tổn thương nghiêm trọng.

- Gây tổn thương tới trung khu thần kinh: xylene có tác dụng gây ức chế hệ thần kinh trung ương, triệu chứng chủ yếu là chóng mặt, khó chịu, tức ngực, mất sức, ở mức độ nghiêm trọng gây suy giảm trí nhớ, khó thở, hôn mê, thậm chí dẫn tới tử vong. Tác hại của xylene tới não lớn hơn so với benzen và toluen, có khi gây bệnh tâm thần, nếu tiếp xúc nhiều với xylene sẽ gây thần kinh suy nhược, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ.

5. Amoniac

Nguồn gốc: là 1 hợp chất hữu cơ. Ở điều kiện tiêu chuẩn, amoniac là 1 chất khí độc, có mùi khai, tan nhiều trong nước. Ứng dụng chủ yếu là điều chế phân đạm, điều chế axit nitric, là chất sinh hàn, dùng để làm bánh bao, có mặt trong các chất phụ gia và làm trắng sử dụng trong đồ da dụng. Trong 1 số vật kiến trúc, để ngăn chặn tình trạng nứt gãy do thi công vào mùa đông, người ta thường sử dụng chất giãn nở bê tông có hàm lượng kiềm cao và chất ngừa đông trong bê tông có chứa u-rê. Trong những chất phụ gia này có chứa hàm lượng amoniac cao, có khả năng bay hơi tùy theo sự thay đổi của nhiệt độ và độ ẩm. Ngoài ra còn dùng trong thành phần thuốc uốn tóc, nhuộm tóc.

Tác hại đối với sức khỏe con người: theo quy định, hàm lượng amoniac cho phép có trong không khí là 0,2mg/m3. Nếu nồng độ lên tới 500-700mg/m3 có thể gây ngộ độc đường hô hấp nghiêm trọng, từ 3500-7500mg/m3 có thể gây tử vong.

- Gây kích ứng: amoniac gây kích ứng mắt, họng và đường hô hấp trên, ở mức độ nhẹ có thể bị xung huyết và phân tiết nhiều dịch, gây sưng phổi. Ở mức độ nặng gây phù nề phổi, mắc các chứng bệnh liên quan tới đường hô hấp.

- Tổn thương thần kinh: tiếp xúc amoniac ở nồng độ quá cao gây hưng phấn hệ thần kinh trung ương, gây co giật và có thể khiến tim ngừng đập và ngừng thở.

6. Vi sinh vật

Vi sinh vật là những sinh vật đơn bào có kích thước nhỏ, không quan sát được bằng mắt thường mà phải sử dụng kính hiển vi, bao gồm cả virut, vi khuẩn, archaea, vi nấm, vi tảo, động vật nguyên sinh. Chúng tuy rất nhỏ bé nhưng lại liên quan mật thiết tới cuộc sống của con người.

Nếu việc vệ sinh trong nhà không được tiến hành cẩn thận, vi khuẩn, virut gây bệnh, ký sinh trùng sẽ có cơ hội sinh sôi nảy nở ở những nơi như gối, máy giặt, lò vi sóng, bàn phím máy tính, thú nhồi bông... Sàn nhà gỗ nếu sử dụng trong 1 thời gian dài, tại các vết nối có thể tích tụ 1 lượng lớn vi khuẩn, bụi bẩn, ký sinh trùng. Trong điều kiện thích hợp, những vi sinh vật này sẽ phát tán ra không khí, gây ra chứng bệnh về đường tiêu hóa và đường hô hấp. Có thể nói, xung quanh môi trường sống của chúng ta, nơi đâu cũng có vi sinh vật.

Các vi sinh vật trong môi trường sống có thể chia làm 4 loại: thứ nhất là nấm (hay còn gọi là chân khuẩn), là nguyên nhân chủ yếu gây ra các chứng bệnh dị ứng, thứ 2 là phấn hoa, thứ 3 là virut, vi khuẩn gây bệnh sinh ra từ cơ thể người, động vật, đất và xác thực vật thối, thứ 4 là bụi và lông các loài vật nuôi (chó, mèo...) Theo nghiên cứu, trong kẽ ghế salon, mỗi gram bụi chứa 1.350.000 vi sinh vật; trong vách của tủ lạnh, cứ mỗi 5cm2 lại có 56.853.000 vi sinh vật. Và ngay cả hơi thở của con người, mồ hôi và quần áo bẩn đều là nguồn gốc sinh ra vi sinh vật.

Vi sinh vật cũng là 1 trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng không khí nhà ở. Thông thường, tổng số vi khuẩn có trong không khí càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh do vi sinh vật gây ra cũng càng cao. Tổng số vi khuẩn trong không khí chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, ví dụ như diện tích căn phòng, nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, độ thông thoáng, số người ở, môi trường xung quanh...

Ô nhiễm vi sinh vật trong môi trường sống sẽ khiến con người bị dị ứng, ví dụ viêm phổi dị ứng, viêm mũi dị ứng hay hen suyễn... Có những loại nấm sẽ giải phóng ra 1 số độc tố khiến người bị hắt hơi liên tục, chảy nước mắt, ho, thở dốc, chóng mặt, tinh thần bất an, sốt và rối loạn tiêu hóa... Trong đó, nhiều nhất là các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, hầu như xảy ra cả 4 mùa trong năm.

7. Bức xạ

Môi trường sống của con người tồn tại rất nhiều vật chất phóng xạ tự nhiên, chỉ có điều là chúng vô hại và con người cũng đã thích nghi với chúng mà thôi. Các chất phóng xạ tự nhiên thông thường đều có trong nham thạch và đất, dưới tác dụng của gió chúng dần dần trở thành bụi bay trong không khí và bị động vật, thực vật hấp thu. Bởi vậy, khi ăn cơm, vô tình chúng ta có thể đã ăn cả các chất phóng xạ tự nhiên vào bụng.

- Radon (Rn)

Radon là khí hiếm phóng xạ không màu, không mùi và không vị, do đó không thể phát hiện chỉ bằng giác quan con người, là sản phẩm phân rã của radium. Khí radon có nguồn gốc tự nhiên có thể tích tụ trong các tòa nhà, đặc biệt trong các khu vực như gác xép và tầng hầm. Bằng chứng dịch tễ học cho thấy mối quan hệ rõ ràng giữa hít thở nồng độ radon cao với tỉ lệ mắc ung thư phổi. Radon được xem là chất gây ô nhiễm đáng kể ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong nhà trên toàn cầu. Trong nhà ở của chúng ta, radon là vật ô nhiễm thể khí duy nhất có tính phóng xạ gây hại tới sức khỏe con người.

Radon sau khi thâm nhập vào cơ thể người sẽ tích tụ trong phế quản, phổi và tổ chức thận ở dạng chất phóng xạ, gây tổn thương cục bộ tới các tổ chức, nếu kéo dài sẽ gây ra ung thư phổi và ung thư phế quản, gây tổn thương hệ tuần hoàn máu, làm giảm lượng tiểu cầu, gây ra bệnh máu trắng.

Radon được Tổ chức y tế thế giới WHO liệt vào danh sách 1 trong 19 chất chính gây ung thư.

Trong môi trường gia đình, khí radon chủ yếu có trong 5 nguồn sau:

1. Đất: trong đất có chứa radon, xâm nhập vào phòng thông qua các vết nứt ở tường, sàn nhà.

2. Khí radon có trong không khí bên ngoài phòng ở.

3. Nguồn nước ngầm: theo kiểm nghiệm, hàm lượng radon chứa trong nước ngầm đạt trên 104Bq/m3, là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm radon trong gia đình.

4. Các nhiên liệu khí đốt tự nhiên: nếu việc thông gió trong phòng không tốt, radon thải ra từ khí tự nhiên và nhiên liệu dầu đốt không thể thoát được ra ngoài.

5. Từ các vật liệu xây dựng trong phòng: đá hoa cương, gạch men...

- Bức xạ điện từ:

Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, các thiết bị điện từ điện thoại di động, lò vi sóng, màn hình máy tính... ngày càng phổ biến và là nguồn gây ô nhiễm bức xạ điện từ quan trọng. Bức xạ điện từ là quá trình truyền năng lượng điện từ trường ra không khí dưới hình thức các sóng điện từ, nó bao gồm bức xạ điện li (như tia X, tia gamma) và bức xạ phi điện li (như sóng điện vô tuyến, vi sóng, tia hồng ngoại, tử ngoại...)

Bức xạ điện từ ở mức độ thấp không gây hại gì tới cơ thể người, trừ khi vượt quá mức cho phép. Cụ thể hơn, khi vượt quá mức 105Hz sẽ gây nguy hại tới sức khỏe con người. Thông thường, công suất của sóng điện từ, cường độ bức xạ, khoảng cách xa gần, thời gian tiếp xúc, nhiệt độ môi trường, độ ẩm và vấn đề thoáng khí có liên quan mật thiết tới mức độ ô nhiễm bức xạ điện từ.

Khi từ trường sinh ra từ màn hình máy tính và đồ điện xâm nhập vào cơ thể người sẽ gây ra tổn thương tới cơ thể. Vi sóng phát ra từ lò vi sóng cũng ảnh hưởng tới nhiệt độ của cơ thể người. Các nghiên cứu mới nhất chỉ ra rằng, bức xạ điện từ có khả năng gây ra các căn bệnh như máu trắng, ung thư não, suy giảm chức năng sinh lý, trẻ sơ sinh bị dị dạng, người già bị mất trí nhớ và các căn bệnh về da. Các chuyên gia chỉ ra rằng, trong các nhân tố gây khiếm khuyết ở trẻ sơ sinh thì bức xạ điện từ là nhân tố có hại lớn nhất. Phụ nữ mang thai nếu thường xuyên tiếp xúc với điện thoại di động và đồ điện thì có trên 65% xuất hiện hiện tượng chóng mặt, mất sức, chán ăn. Người mẹ trong giai đoạn mang thai sử dụng thảm nhiệt điện, thì tỷ lệ trẻ sinh ra mắc bệnh máu trắng cao hơn trẻ khác gấp 7 lần. Còn nếu trẻ lớn lên trong môi trường có sóng điện từ quá mạnh, tỉ lệ mắc bệnh ung thư sẽ cao hơn các trẻ khác 2-5 lần.

Tác hại của điện từ tới cơ thể người căn cứ theo nguyên lí phát sinh, có thể phân thành 3 loại là hiệu ứng nhiệt, hiệu ứng phi nhiệt và hiệu ứng quần thể. Hiệu ứng nhiệt là sóng điện từ có tần số cao có tác dụng "tăng nhiệt" đối với các tế bào trong cơ thể sinh vật, khiến nhiệt độ cơ thể tăng cao, do sóng điện từ có thể xuyên qua lớp vỏ bên ngoài của sinh vật và ảnh hưởng trực tiếp tới tổ chức cơ quan bên trong cơ thể, gây 'bỏng" nghiêm trọng. Loại thứ 2 là hiệu ứng phi nhiệt, chỉ ảnh hưởng của loại sóng có tần số thấp, sau khi cơ thể bị bức xạ sóng điện từ, nhiệt độ cơ thể không tăng cao rõ rệt, nhưng điện từ trường yếu vốn có trong cơ thể người bị nhiễu, sẽ gây tổn thương nghiêm trọng cho cơ thể. Loại thứ 3 là hiệu ứng quần thể (hiệu ứng tích lũy), nghĩa là khi cơ thể đã bị tổn thương bởi hiệu ứng bức xạ, chưa kịp hồi phục lại bị tổn thương lần nữa, lâu dần trở thành tổn thương không thể phục hồi.

Mặc dù con người đã thử nhiều cách để ngăn chặn tác hại của tia bức xạ điện từ tới cơ thể, nhưng trong rất nhiều cách đó có nghiên cứu đã chứng minh sử dụng thực vật là 1 trong những cách hiệu quả nhất, có thể hấp thu được các bức xạ thoát ra. Hiệu quả chống phóng xạ của cây xanh trong nhà tốt hơn bất kỳ màn bảo vệ màn hình máy tính nào.

8. Bụi công nghiệp

Là 1 trong những chất gây ô nhiễm phổ biến, kích cỡ thường to khoảng từ 1µm trở lên. Những hạt bụi mà mắt thường nhìn thấy được nhỏ nhất cũng vào khoảng 10µm, bởi vậy những hạt bụi công nghiệp không nhìn thấy được gây nguy hại nghiêm trọng tới phổi.

Bụi công nghiệp có nguồn gốc rất phong phú: 1 số được thải ra trực tiếp từ các nguồn ô nhiễm như ống khói và các loại xe có động cơ, 1 số loại bám trên các chất ô nhiễm hóa học và các vi khuẩn gây bệnh, còn 1 số có trong các hóa chất trong không khí như các chất oxy hóa, nitơ ôxit...

Trong môi trường nhà ở, bụi công nghiệp đa số đều có trong những nơi bụi tích tụ nhiều nhưng ít được quét dọn như gầm giường, gầm bàn ghế hay ở những nơi dễ tích tụ bụi hữu cơ như thảm, đệm ghế, các sản phẩm bằng len dạ. Các nhiên liệu như than tổ ong, dầu, khí đốt tự nhiên, củi... cũng có thể thải ra nhiều bụi khói nguy hiểm. Khói thuốc lá cũng có thể thải ra bụi. Sơn tường cũng là 1 nguồn chính sinh ra bụi công nghiệp. Phấn hoa và nấm cũng có thể xâm nhập vào trong nhà.

Đặc tính của bụi công nghiệp: chúng ta có thể căn cứ vào tính chất của bụi để bước đầu phán đoán mức độ nguy hại của nó.

Thành phần hóa học và nồng độ trong không khí của bụi công nghiệp trực tiếp mức độ tổn thương của nó tới cơ thể người. 1 số bụi kim loại khi đi vào đường hô hấp của con người có thể gây ra hiện tượng trúng độc kim loại. Cùng 1 loại bụi công nghiệp, nếu nồng độ trong không khí càng cao, lượng hít vào càng nhiều thì càng nguy hiểm.

Độ phân tán của bụi cao, tốc độ lắng chậm, mức ổn định cao nên tỷ lệ xâm nhập vào cơ thể người cũng cao. Mức độ ổn định cũng có liên quan tới mật độ và hình dáng của bụi. Những hạt bụi lớn 10µm đa số đều bị ngăn lại tại đường hô hấp trên, những hạt bụi nhỏ 5µm trở xuống có thể đi sâu vào trong đường hô hấp.

Ảnh hưởng của bụi công nghiệp có độc (như chì, thạch tín) đối với cơ thể người tỉ lệ thuận với độ hòa tan. Những cũng có trường hợp ngoại lệ như bột mì, đường rất dễ hòa tan trong cơ thể người nhưng không gây tổn thương lớn cho cơ thể; còn thạch anh, amiang, mặc dù độ hòa tan không cao nhưng lại vô cùng nguy hiểm.

Do điện tích khác nhau mà tính ổn định trong không khí của bụi công nghiệp cũng khác nhau. Thông thường, những hạt bui mang điện tích thường bị giữ lại trong cơ thể.

- Sức đề kháng của cơ thể người đối với bụi công nghiệp: cơ thể có khả năng đề kháng đối với bụi xâm nhập vào đường hô hấp. Khi bụi chui vào đường hô hấp, thông qua kết cấu của đường hô hấp, sự thay đổi hướng không khí và nội tiết trong cơ thể khiến những hạt bụi lớn trên 10µm bị lắng lại trong khoang mũi và đường hô hấp trên rồi bị thải ra ngoài. Do bụi có tác dụng kích thích tới niêm mạc đường hô hấp trên nên các mao mạch trong khoang mũi nở ra, tiết ra chất nhầy, có thể trực tiếp ngăn chặn bụi.

Tại đường hô hấp dưới, thông qua sự phân bố của phế quản, tốc độ không khí giảm và thay đổi phương hướng, có thể khiến bụi lắng lại trên vách của phế quản. Những hạt bụi xâm nhập vào trong túi phổi, 1 phần được bài tiết ra ngoài qua hô hấp, 1 phần bị tế bào nuốt vào, sau đó được chuyển lên bề mặt niêm mạc phế quản và được đưa ra ngoài.

- Tác hại đối với sức khỏe người: Rất nhiều thể khí, thể lỏng và 1 số nguyên tố kim loại có trong bụi công nghiệp có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua hô hấp, đi vào phổi và bám trên vách phế quản, gây ra các bệnh về đường hô hấp. Các nhà khoa học Đức cũng đã phát hiện rằng những hạt bụi công nghiệp nhỏ trong không khí có thể làm rối loạn nhịp tim, ảnh hưởng tới tần số đập của tim và khiến các tổ chức phổi dễ bị viêm.

Khi lượng bụi xâm nhập vào phổi đạt đến 1 số lượng nhất định sẽ khiến tổ chức phổi bị xenlulo hóa, khiến tổ chức phổi dần dần bị xơ hóa, mất đi chức năng hô hấp thông thường, bao gồm chứng viêm đường hô hấp trên, viêm phổi, ung thư phổi và các căn bệnh khác liên quan tới phổi.

Các loại bụi có đặc tính khác nhau cũng gây ra các tác hại khác nhau tới cơ thể. Trong đó, bụi trong phòng thường kết hợp với các nhân tố độc hại khác, gây nhiều loại bệnh cho con người. Ví dụ như sau khi bụi có độc có thể hòa tan xâm nhập vào đường hô hấp sẽ rất nhanh chóng được hấp thụ vào máu, gây ra trúng độc, bụi có phóng xạ có thể gây ra những tổn thương do phóng xạ; 1 số loại bụi cứng có thể gây tổn thương giác mạc và kết mạc; khi bụi bít tuyến mỡ dưới da và có những kích thích có thể gây ra dị ứng, viêm nang lông, mưng mủ và da nứt nẻ; khi bụi xâm nhập vào tai ngoài, kết hợp với mỡ da tạo thành ráy tai... Trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, bụi trong phòng còn trở thành 1 cái giường êm ái cho nấm mốc và côn trùng, tăng thêm tỷ lệ nhiễm bệnh cho người.

Muốn loại bỏ triệt để bụi công nghiệp trong môi trường trong phòng là việc khó khăn, ngoài việc tăng cường làm vệ sinh và thường xuyên tiến hành thông gió trong phòng, duy trì không khí trong sạch, bạn cũng có thể trồng các loại cây xanh trong phòng để giảm bớt lượng bụi trong không khí.

Thegioihatgionghoa.com  TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP TIN TỨC - Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần phát triển nông nghiệp Á Châu

 PHÙNG BẢO VÂN